Thứ Sáu, 23 tháng 1, 2009

NỖI BUỒN CUỐI NĂM CỦA ÔNG ĐỒ GIÀ .

NHỮNG ĐỨA CON NGOAN CỦA " cha già dân tộc "
NHỮNG ĐỨA CON NGOAN CỦA " cha già dân tộc " magnify
Video: Ông đồ cút xéo! đây là địa bàn của tao!







ông đồ van lạy CA khi bị giật những bức thư pháp

Xem Video: Ông đồ cút xéo! đây là địa bàn của tao! tại đây










Trung tá Lê Quý Luận, đội trưởng đội trật tự Công an Phường Văn Miếu - Quận Ba ĐÌnh đang “chỉ đạo các lực lực lượng chức năng” xử lý theo nghị định 227 về lấn chiếm lòng lề đường của UBND TP Hà Nội..

Trung tá cảnh sát thế này thì đến Cụ đồ Liên sống lại cũng không dám bày mực tàu, giấy đỏ ngồi cho chữ...















những hình ảnh..giật - giằng - vò, ném... thách thức công luận của lực lượng công quyền đã diễn ra ngay tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, nơi thờ Khổng Tử, Chu Văn An, những bậc hiền hiền triết luôn dạy chúng ta… Làm Người cũng cần phải học.













cảm thấy chưa đủ mạnh tay, Trung tá Lê Quý Luận, đội trưởng đội trật tự Công an Phường Văn Miếu, đã gọi điện xin chi viện của lực lượng phản ứng nhanh 113 công an Q. Ba Đình xuống ”giải quyết”

























Người dân cảm thấy phân nộ và bức xúc với cách mà lực lượng cảnh sát và lực lượng dân phòng đang hành xử.


“Việc các cụ đồ viết câu đối trong mấy ngày tết, là tái hiện một nét văn hóa của của nguời Hà Nội xưa, sao lại xua đuổi và gọi họ là buôn bán chữ, kinh doanh trái phép được” –


“Những người mặc sắc phục cảnh sát đó, đã mất niềm tin với người dân chúng tôi, sự việc vừa diễn ra thật sự làm chúng tôi đau xót”, ông Văn Quý cán bộ Bộ Kế hoạch đầu tư, bức xúc nói.














nhà Thư Pháp như Tiến sỹ Cung Khắc Lược, Trịnh Tuấn.. tỏ rõ sự thất vọng và chán nản, khi nhìn những bức Thư Pháp, những chữ Tâm, chữ Nhẫn, chữ Đức, chữ Tài, và những lời dăn dạy của các bậc tiền nhân, bị lực lượng công quyền giật, ném lên xe không thương tiếc.


“Thật vớ vẩn, quá vớ vẩn, họ đã thiếu hiểu biết và vô văn hóa, họ có thể không cho chúng tôi ngồi đó, nhưng xin đừng đối xử với chúng tôi như những tên tội phạm”, nhà thư pháp Tiến sỹ Cung Khắc Lược nói.


"Chúng tôi không đi làm thuê, chúng tôi viết chữ không phải vì tiền, không thể chấp nhận cảnh một ông đồ ngồi viết và một cô tân thời đứng bên cạnh thu tiền. Đó không phải là truyền thống ngàn đời của Thăng Long xưa”, nhà Thư pháp Vũ Xuân Hợp gay gắt nói.






















Xin đừng ứng xử với chúng tôi như tội phạm


















Thứ Năm, 22 tháng 1, 2009

NGƯỜI PHỤ NỮ ĐẸP NHẤT THẾ GIỚI .


Thẫm mỹ viện.

Làm đẹp là nhu cầu có thật , dù nam hay nữ đã là con người , không ai muốn mình xấu cả . Đó cũng là cách để tôn trọng người khác khi ra đường hay khi giao tiếp với ai đó

trong cuộc sống còn nặng , rất nặng tính hình thức này .

Thôi thì đâu ai cấm mình nghĩ cứ xem như mình làm đẹp thành phố vậy mà .Có khi còn được tiếng là người đẹp có lòng tự trọng.

Quý bà , quý , cô và kể cả quý ông nữa mọi người thi nhau làm đẹp , nhà nhà làm đẹp,

Thẫm mỹ viện mọc lên như nấm sau cơn mưa , họ tha hồ hốt bạc . quý bà quý cô hồ hỡi

Phấn khởi móc hầu bao , phóng khoáng đổ tiền vào thẫm mỹ viện gọi là trang trí thêm cho “ Chiếc nôi nhân loại “ , ( phụ nữ chẳng phải là chiếc nôi nhân loại thì là gì nữa ) .

Người thì muốn “ bành trướng vòng 1” cho thêm phần gợi cảm , quyến dzũ để các chàng và cả các ông xồn xồn nữa mê tit mắt , mãi nhìn bị xe tông cho bỏ ghét .

Có cô thì muốn “ bứt phá vòng 3 “ để có dáng đi gợi cảm , uyển chuyển phao câu , trông giống con vịt bâu sắp đẻ. Như sau 1975 nhìn cô nào tóc thắt bím , đít bự là biết ngay , đích thị là con cháu bác hồ , chắc tại vượt trường sơn đi” kíu nước” bị cuốc bộ hơị nhiều nên phao câu nảy nở , thú thật thời đó tôi hay chọc ghẹo mấy cô này , cũng có đôi khi nhìn… hơi lâu , bổng dưng muốn khóc .

Còn quý bà nào muốn “ phong tỏa vòng 2 “ thì úm ba la cứ tà tà hút mỡ , tìm lại cái thưở hồng hoang đáy thắt lưng ong , kiếm chồng cho nó dễ. Bỏ thằng chồng già cho chó nó gặm , cái tội vì ông mà tui tàn tạ dung nhan .

Chưa hết, có nữ ĐẠI GIA còn chơi xả láng lấy số má với đời “ luộc nguyên con “ cho

Thiên hạ tròn con mắt , sửa cả tướng đi cho yểu điệu thục nữ , nhìn vào chẳng ai biết em tôi chì mới chín đời chồng .

Viết tới đây nghe lùng bùng lỗ tai , chắc quý bà , quý cô đang nguyền rủa thằng cha căng chú kiết nào lắm chuyện , không chừng chửi luôn mẹ việt nam đẻ chi thằng con cà tửng , tối ngày Cứ lo đi moi moi móc móc chuyện quý bà . Chẳng biết cảm nhận cái đẹp trời cho . Rỏ là rách việc .

Giờ chạy qua quý ông cho nó có vẻ “ công bằng nhân thế “ . Nếu chịu để ý một chút .

Sẻ thấy ngay là quý chàng , quý ông , còn “ ngựa “ hơn quý chị em nhiều , nếu vào siêu thị , nơi nào có gương nhiều để ý sẻ thấy ADAM thích soi gương hơn EVA nhiều lắm .

Không tin cứ test thử thì biết . chắc chắn là vậy , vì thằng tôi suy bụng mình , rình bụng

Người thì không sai một ly ông cụ nào . Vậy còn làm đẹp thì sao ?

Xin thưa ngay là còn tốn kém hơn phái nữ , các chuyên dza làm đẹp nắm bắt tâm lý này nên tha hồ chặt chém ,vậy mà mấy ông lại tin sái cổ mới lạ . nhất là “ mấy chàng thanh niên sống lâu năm “ tuổi đã xế chiều , vẫn đi căng da mặt để nhìn cho có vẻ tươi mát ,tắm trắng da kẻo nó già “ trước tuổi “ , tìm linh dược Viagra để củng cố ‘ bản lĩnh đàn ông’ kẻo mấy con cá lòng tong không thèm ngó tới , có khi “ thằng nhỏ “ nổi điên luôn mấy ngày làm thằng cha phải nhập viện gấp , không thì tiêu đời từ hải .

Có ông còn đi bơm mông , sửa mũi , chẻ cằm , cắt mi mắt , cho giống tài tử mặc quần gin đi đóng phin , tốn công , tốn của không ít là khoản sắm sửa cho “ thằng con “ sao

Thật ấn tượng , thật quyến dzũ gợi cảm , làm một số ( dạ , một số ít thôi } quý bà , quý cô

Khi vướng phải cái vòng oan nghiệt , chẳng nhớ ba má tên gì , năm nay mình mấy tuồi .

Mỹ phẫm thì không thiếu thứ gì , còn nhiều gấp mấy lần các chị .

Vì sao mấy chàng “ thanh niên sống lâu năm” làm vậy ??? Vì tiền dễ kiếm quá. không xài cũng uổng , tội gì không hưởng. nhà báo tự do có việc làm , tha hồ bơi móc chuyện

mấy ông quan đi mua trinh tiết các cô gái đáng tuổi con mình , nói nghe mà ham , nhưng đừng có mơ , vì đẳng cấp đó là của “ đại gia đỏ “ thời nay . phận dân đen như thằng tôi

Lâu lâu chôm miếng sữa rửa mặt cho nó mát cái mặt với đời , gấu mẹ mà bắt gặp thì thôi rồi ,Nó chửi xách dép chạy không kịp còn với theo câu “ đồ cái thứ già mà chảnh “.

Nhưng ! KÍNH THƯA quý bà , quý cô cùng các quý ông , quý anh .

Từ bé, thằng tôi đã mắc chứng bệnh là khoái chọc ghẹo thiên hạ, từ bấm chuông cửa rồi bỏ chạy , cho tới chuyện ném” kít” vào nhà thiêng hạ. bị chửi càng nhiều lại càng khoái mới ác ,Còn chuyện bị nắm đầu xách tới nhà mắng vốn thì…làm sao mà nhớ nổi.

tuy nhiên những chuyện vừa nói trên tôi cam đoan là nói thật ( có bớt , chớ không thêm )

nói có sách , mách có chứng đàng hoàng nghen bà con cô bác. Ai thắc mắc tò mò thì cứ hỏi dò cái cơm – bu – tờ thì biết thôi . Chỉ đường hươu chạy bị thêm tội gương mù , gương xấu . Giờ cho tui làm bộ nghiêm chỉnh chút nghen .

Thưa quý ông bà và anh chị em .

Thằng tôi xin được gợi ý cùng quý vị , một nơi làm đẹp từ A- Z miễn phí , chỉ cần lòng tin và sự kiên nhẫn , chứ không tốn xu nào. Muốn cho bao nhiêu cũng được , không có cắc nào cũng xong . Mọi người đều được làm đẹp như nhau , không phân biệt sang hèn .

Tất cả đều bình đẳng và có quyền làm đẹp cho mình , nếu thật lòng muốn thế .

Đó là : THẪM MỸ VIỆN GIESU .

Nơi tập trung các chuyên gia thẫm mỹ , có tay nghề lâu năm , dày dạn kinh nghiệm làm đẹp. hướng dẫn cách tôn tạo cái đẹp lâu dài , cái đẹp vĩnh cữu , mà điều kiện thì đơn

Giản , đơn giản vì chỉ có một . Đó là SỰ THÀNH TÂM HỢP TÁC .

Các bác sĩ nơi đây trị từ bệnh nhẹ tới bệnh nặng ( như thằng tôi vừa được trị khỏi bệnh cứng đầu ) mà thuật ngữ của bác sĩ ở đây , gọi là sơ cứng lòng tin .bệnh này tui thấy nhiều người bị lắm , lại hay lây nữa nếu không biết phòng ngừa. Nhiều thứ bệnh mà có vào đấy mới phát hoảng , tui xin đơn cử một vài trường hợp:

1. bệnh thối tai ,( không phải điếc ) vì ai nói gì phải cũng không nghe , ở khoa thối

tai này tôi thấy mấy ông bà quan chức đến chửa cũng nhiều lắm .

2. bệnh mù định hướng , ( mắt vẫn sáng ) nhưng không thấy đường đi .

3. bệnh thui chột tâm hồn ( bệnh này nghe lạ ) bác sĩ nói loại này không trị đê lâu biến chứng thành người cõi trên , vì sống giữa cộng động xã – hội mà cứ tưởng mình sống trong rừng .

4. bệnh điên khùng chân lý , ( bệnh này thật quái đản ) chỉ dành riêng cho các nhà trí thức thuộc lĩnh vực triết học mác – lênin , nhìn tới nhìn lui không thấy ai là dân thường , toàn là “ đĩnh cao trí tuệ” và những nhà “ thông thái “ .

Sau cùng là khoa đặc – biệt , nơi tập trung các thiên tài làm đẹp, có kinh nghiệm và có bằng cấp đàng hoàng , bằng cấp thứ thiệt , không phải loại sống lâu lên lão làng.

Muốn làm đẹp cứ mạnh dạn bước vào , không ai coi rẻ quý vị đâu , có quyền xem như nhà mình vì đây là nhà chung ,. Cứ đi thẳng đừng do dự vì không ai dám bắt nạt

Ai nơi đây. Đi thẳng …đừng nhìn lại phía sau..Đừng nhớ thì quá khứ , quý vị sẽ thấy căn phòng lộng lẫy ,có một tấm biển nhỏ khiêm tốn ghi dòng chữ:

MÌNH THÁNH CHÚA KITO.

NƠI ĐÂY,

TẨY TRẮNG MỌI LỖI LẨM.

nguoithathoc1959.

Thứ Ba, 20 tháng 1, 2009

Một thời vụng dại...


Những ngày cuối năm trong cái se lạnh bất thường ,. cả nhà rủ nhau đi shopping , chuẩn bị đón năm mới .Đưa năm củ trở về ngôi nhà quá khứ , nhưng hắn đã quên mang theo những mất mát tình người , những bất công và đau khổ , Hắn để lại cho tôi - Cái điên điên khùng khùng của những tháng năm vụng dại , phí hoài tuổi trẻ , để đến tận bây giờ tôi mới học cách yêu thương.

Tôi từ chối không đi cùng mọi người , đơn giản vì tâm hồn tôi quá đỗi nghèo nàn về chuyện ăn uống và mua sắm .

ở nhà lang thang vào net xem ngày mai , trên quê hương tôi mặt trời sẽ mọc ở hướng nào . Có thể mặt trời không thèm mọc ở hướng đông nữa. vì số đông con người ngày nay đâu còn cảm nhận được nét đẹp mà tạo hóa ban tặng cho loài người

Cái đẹp mà tạo hóa cho không , chẳng tốn xu nào nên chẳng ai thèm chăng ?

Càng về đêm càng lạnh , nhưng cái lanh thịt da tôi nếm trải nhiều rồi , cũng thú vị lắm khi cái lạnh thấm dần vào cơ thể . Cái cảm giác như được vuốt ve bằng đôi tay của người tình , có trái tim bằng gỗ , vụng về và thô kệch nhưng mênh mang và miên viễn …

Tôi chỉ sợ cái lạnh trong lòng , cái lạnh vô cảm làm con người mất đi thiên chức làm người , không còn cảm nhận được nỗi đau của đồng loại , họ sẳn sàng truy bức nhau để dành miếng ăn cho bản thân và gia đình của riêng họ.

Mạnh được yếu thua , quy luật muôn đời vẫn thế .

thấy chạnh lòng thương những ai lâm cảnh cơ hàn . Tôi chắc ngoài kia , bên ngoài căn nhà ấm cúng nơi tôi đang ngồi viết những dòng này , hẳn có người đang đói lạnh , vì chiều nay không kiếm được tiền để mua cơm độ nhật . Tôi chắc rằng các em tôi có đứa vẫn còn lang thang đâu đó nơi góc phố nhặt nhạnh từng cái bao nylon mà thiên hạ vứt đi để mai còn có khúc bánh mì lót dạ . Tôi chắc rằng chị em tôi không ít người đang ở ngoài đường mời gọi khách làng chơi lắm tiền nhiều của để bán thân xác mình mưu cầu cơm áo . Và tôi cũng chắc rằng bên trong những biệt thự nguy nga kia , những con người quyền cao chức trọng người ta cũng nâng ly chúc tụng nhau về những “ thành công tốt đẹp “ đã làm cho đất nước ngày càng nhiều bất công hơn , nghèo đói hơn . Họ vui cười , la hét và hoan hô “ ĐẢNG CỘNG SẢN QUANG VINH MUÔN NĂM “

“ CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN BÁCH CHIẾN BÁCH THẮNG MUÔN ĐỜI “ .

Họ huênh hoang vui sướng trên sự thống khổ của hơn tám mươi triệu người dân và trong cơn lên đồng tập thể của một lũ người điên loạn , què quặc tâm hồn , đui mù chân lý . Và dưới đèn hoa rực rỡ , họ nhảy nhót tưng bừng thâu đêm suốt sáng .

Chỉ còn MẸ tôi , bà MẸ VIỆT – NAM , già nua cằn cỗi , ngồi co ro bên vệ đường trong cái lạnh đêm về để buồn , để thương và để nhớ , bà nhớ thuở vàng son , bà nhớ thời con gái… Bà khóc . khóc một mình , khóc âm thầm như không muốn ai nhận ra rằng bà đang khóc . Bà khóc cho những đứa con đã quên nguồn cội…không còn trái tim để yêu thương đồng loại . khóc cho những đứa con nghiệt ngã trong cuộc đời của bà .

Bà khóc cho quê – hương đất nước , khóc cho nhân tình thế thái . khóc cho thân phận của bà . Và …cả cho tôi .

nguoithathoc1959.

Chủ Nhật, 18 tháng 1, 2009

đọc ĐÊM GIỮA BAN NGÀY CỦA VŨ THƯ HIÊN ,để hiểu thêm về csvn.


Vũ Thư Hiên

Đêm giữa ban ngày

Tự Bạch

Tôi tặng cuốn sách này cho :
Những người con của nước Việt
đã cống hiến đời mình
cho một nước Việt Nam độc lập, tự do và dân chủ.
Hương hồn cha tôi,
và những người cộng sản
đã chết bởi tay các đồng chí của họ.
Mẹ tôi,
người dạy tôi sống không cúi đầu.
Vợ tôi,
người cùng tôi chia sẻ vô vàn khốn khó
trong những năm tháng đen tối của đời tôi.
Các bạn tù của tôi, cộng sản cũng như không cộng sản.
Các thế hệ sau tôi,
hi vọng họ sẽ không bao giờ phải sống như tôi đã sống,
dưới bất cứ gông cùm chuyên chế nào.

Ba mươi năm đã trôi qua kể từ khi ở miền Bắc Việt Nam nổ ra một vụ án lớn, cho đến nay vẫn còn là chuyện khó hiểu đối với nhiều người.
Trong nhân dân, vụ án này có tên nôm na là vụ "xét lại chống Ðảng". Tên chính thức của nó ít ai được biết, kể cả các đảng viên cộng sản, là "Vụ án Tổ chức chống Ðảng, chống Nhà nước ta, đi theo chủ nghĩa xét lại hiện đại và làm tình báo cho nước ngoài"(1). Ðây là tấn bi kịch lớn nhất trong hàng ngũ những người cộng sản ở Việt Nam, từ nhà cách mạng lão thành suốt đời đấu tranh cho độc lập dân tộc cho tới đứa trẻ vừa lọt lòng mẹ trong nền độc lập đã giành được(2).
Trong vụ án này Ðảng(3) cầm quyền bất chấp luật pháp do chính mình đặt ra đã xuống tay hạ ngục, giam cầm và lưu đầy nhiều năm không xét xử những người có tư tưởng bất đồng. Nằm trong phạm vi trấn áp của vụ án do Ban tổ chức Trung ương Ðảng khởi xướng còn phải kể rất nhiều cán bộ, đảng viên có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp với những người bị bắt. Ngoài ra, một số dân thường cũng bị Ðảng nhân tiện chụp cho cái mũ xét lại hiện đại để xử lý. Tất tật bị nhét chung vào một rọ, bị Ðảng trừng phạt bằng nhiều cách khác nhau, với mức độ khác nhau.
Bị bắt năm 1967, những người tù không có án, còn gọi là tù "xử lý nội bộ", tới năm 1973 mới lần lượt được thả.
Chưa hết. Sau sáu năm giam cầm họ còn phải chịu đựng những năm lưu đầy biệt xứ và quản thúc tại gia.
Tưởng chừng vụ án đến đấy là kết thúc, nhưng không phải.
Người cuối cùng trong số tù nhân được Ðảng ban cho ân sủng "xử lý nội bộ" mãi tới tận tháng Chín năm 1976 mới được ra khỏi cổng nhà tù.
Người tù ấy là kẻ viết những dòng này.
Ðáng ngạc nhiên là sau nhiều năm im lặng đáng sợ, nói theo cách của nguyên tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, những ban lãnh đạo Ðảng kế tiếp nhau tính từ thời tổng bí thư Lê Duẩn trở đi, vẫn khăng khăng khẳng định đảng của họ đúng trong cách xử lý vụ án, rằng những kẻ vi phạm luật pháp (của Ðảng và chỉ của Ðảng mà thôi) xứng đáng chịu những án hình lẽ ra phải nặng hơn những án hình mà Ðảng nhân từ đã ban cho.
Trong chín năm tù tôi chỉ làm được một việc có ích, cho bản thân và cho những người mà tôi thương yêu, là giã từ được ảo ảnh về một chủ nghĩa cộng sản được tô vẽ như là thiên đường dưới thế.
Sự nhìn lại đời mình cũng như sự quan sát số phận của đồng bào trong những nhà tù tôi đi qua đã mang lại cho tôi cái nhìn tỉnh táo không riêng đối với những hành động phi nhân của những vua chúa mới, mà cả một thể chế xã hội trong đó con người dù muốn dù không đều đánh mất mình.
Cuốn sách mà bạn đang cầm trong tay là một phần những quan sát của tôi, một phần những suy nghĩ của tôi, về cái xã hội khó hiểu mà số mệnh đã an bài cho tôi sống trong lòng nó.
Xã hội này là khó hiểu bởi vì, căn cứ những gì tôi biết, nó khởi sinh từ những ý muốn tốt đẹp, bắt đầu bởi những con người lương thiện. Cũng căn cứ những gì tôi biết, tôi dám đoan chắc rằng trước kia, khi mới nhập vào dòng chảy không bao giờ ngưng của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, họ không hề ấp ủ những mưu đồ xấu xa.
Trong sự biến dạng của những người cộng sản, trong sự tha hóa của họ, cái gì là tác nhân - chủ thuyết mà họ theo đã nhào nặn con người họ thành ra như thế hay chính họ tự biến đổi để trở lại nguyên hình, cho đúng với bản thể do trời đất tạo ra, hay là cả hai cái đồng thời, tôi không rõ.
Cuốn sách này chỉ là một chút ánh sáng soi rọi vào một vụ án cụ thể nhưng mang tính đại diện cho một thời kỳ cai trị của Ðảng cộng sản, một mảnh gương con phản ánh một số mặt ít người biết đến của xã hội Việt Nam.
Là cái nhìn từ phía người trong cuộc, mọi hồi ức đều mang tính chủ quan. Nhưng, cũng lại với tư cách hồi ức, nó vẫn là bằng chứng đáng được chú ý, cho dù chỉ là bằng chứng từ một phía. Tôi cố gắng, trong chừng mực có thể, đưa ra bằng chứng của tôi về vụ án nói trên bằng ngòi bút công bằng.
Trong cuốn sách này chỉ có sự thật. Hình thức văn học mà tác giả sử dụng trong cuốn sách chỉ vừa đủ cho bức tranh sự kiện không thành quá tẻ nhạt. Văn học đích thực không có chỗ nơi đây.
Vì mục đích cuốn sách giới hạn trong một vụ án, cho nên nó không thể là cuốn sách nói về chế độ lao tù ở Việt Nam. Ðể nói về nhà tù Việt Nam cần một cuốn sách khác. Mà đó là một đề tài đáng được chú ý, chí ít cũng là một sự quan tâm không thể thiếu đối với số phận đồng loại trong một nửa thế kỷ.
Quá khứ sẽ chẳng có ích cho ai bởi sự hồi tưởng đơn thuần. Quá khứ chỉ có ích khi con người lấy nó làm cái để mà suy ngẫm, rút ra từ trong lòng những sự kiện của nó bài học cho tương lai.
Cuốn sách này không phải là lời lên án một xã hội nay mai sẽ trôi vào quá khứ.
Tôi không dám đặt cho mình mục đích buộc tội. Chỉ vì lịch sử thường có sự lặp lại, cho nên tôi muốn gióng lên hồi chuông cảnh báo.
Tôi cũng không thể đóng vai người buộc tội được bởi trong xã hội mà tôi sống tôi không đơn thuần là nạn nhân. Về mặt nào đó, trong chừng mực nào đó, tôi còn là thủ phạm.
Tôi viết vì tôi không thể không nói lên tiếng nói của mình. Tôi quan niệm kẻ không dám nói "không" trước tội ác là kẻ đồng lõa với tội ác.
Và sau hết, theo cách biểu đạt của nhà văn Nga Prishvine, tôi chỉ là "một cái lá trong hàng triệu cái lá của cây đời, và nói về một cái lá thì cũng là nói về những cái lá khác". Số phận tôi được nói đến trong cuốn sách này cũng là số phận của nhiều người cùng thế hệ.
Xin hãy coi cuốn sách này là lời sám hối trước đồng bào của cha tôi nay đã không còn. Nó được thực hiện theo lời trăn trối của Người.
Cuốn sách còn là một vòng hoa muộn, một nén hương thêm đặt lên mồ những nạn nhân xấu số của một thời kỳ đen tối, những con người bất hạnh đã không chờ được đến ngày cuộc đời lập lại lẽ công bằng cho họ.
(1) Mãi tới năm 1995 tôi mới được biết tên gọi chính thức của vụ án nhờ bức thư của ông Nguyễn Trung Thành, nguyên vụ trưởng Vụ bảo vệ Ðảng thời kỳ đó, đề ngày 3.2.1995, gửi Bộ Chính trị Ðảng cộng sản Việt Nam, trong đó ông Thành yêu cầu giải oan cho hơn 30 đồng chí bị bắt và bị xử lý. Tính riêng số người bị bắt không thôi đã vượt quá con số do ông Thành đưa ra. Có lẽ ông chỉ nói tới những người là đảng viên.
(2) "Có thể nói, sau những sai lầm, oan trái rộng rãi trong Cải cách ruộng đất và Chỉnh đốn tổ chức (1956), thì đây là vụ án oan sai lớn nhất trong lịch sử Ðảng ta, xét về quy mô, tính chất. Và, có thể nói không ngoa, đây là vụ án oan sai lớn nhất trong hàng ngũ những người yêu nước Việt Nam của thế kỷ XX" (trích thư của ô. Lê Hồng Hà, nguyên Chánh Văn phòng, Vụ trưởng Vụ tổng hợp Bộ Nội vụ, trong thời gian xảy ra vụ án, gửi cho Ban chấp hành Trung ương Ðảng cộng sản Việt Nam khóa VII, đề ngày 18/7/1995, về vụ "nhóm xét lại chống Ðảng").
(3) Trong các tài liệu chính thức ở Việt Nam từ Ðảng viết hoa được dùng để chỉ Ðảng cộng sản Việt Nam, với ý nghĩa tôn sùng. Trong cuốn sách này nó cũng được viết hoa như vậy cho tiện, cho vắn tắt, chứ không hàm nghĩa đó.
hết: Tự Bạch, xem tiếp: Chương 1


Nguồn: Mõ Hà Nội
Được bạn: Thành Viên VNthuquan đưa lên
vào ngày: 27 tháng 12 năm 2003

tìm hiểu về nguyễn cao kỳ .

Nguyễn Cao Kỳ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm
Nguyễn Cao Kỳ

Nguyễn Cao Kỳ (sinh năm 1930) là một sĩ quan quân đội cao cấp và cựu chính khách Việt Nam. Ông từng là Thủ tướng (1965-1967) và Phó Tổng thống (1967-1971) của Việt Nam Cộng hòa; từng là đồng minh rồi đối thủ của cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu; từng được coi là người có tư tưởng chống Cộng cực đoan trong thời kỳ trước 1975 rồi sau đó, kể từ năm 2004, được Nhà nước Việt Nam coi là biểu tượng của sự hòa hợp hòa giải dân tộc. Nguyễn Cao Kỳ là người nhận được nhiều mô tả và bình luận rất trái chiều từ nhiều phía.

Mục lục

[ẩn]

[sửa] Tiểu sử

[sửa] Thời trẻ

Nguyễn Cao Kỳ, sinh năm 1930 tại thị xã Sơn Tây, (quê làng Đường Lâm - thị xã Sơn Tây), là con thứ ba và là con trai độc nhất của ông giáo Nguyễn Cao Hiếu. Ông lúc trẻ học giỏi, nhưng rất ngỗ nghịch. Ông học ở Sơn Tây hết lớp 4 thì được cho về Hà Nội vào học ở trường Bưởi (hay trường trung học Bảo hộ - Lycée du protectorat - nay được gọi là trường trung học phổ thông Chu Văn An).

[sửa] Binh nghiệp và hoạt động chính trị

[sửa] Giai đoạn trước 1967

Tướng Kỳ và tướng Ngô Quang Trưởng(người đội mũ sắt không che mặt) trên tàu sân bay Midway năm 1975

Nguyễn Cao Kỳ đi lính Pháp năm 1952 và được đưa vào huấn luyện tại Trường sỹ quan trừ bị khoá I ở Nam Định. Sau đó Nguyễn Cao Kỳ được chọn đi đào tạo tại trường không quân Marrakech tại Maroc.

Sau Hiệp định Genève, ông ở lại tham gia Quân lực Việt Nam Cộng hòa, trở thành một trong những phi công và sĩ quan chỉ huy đầu tiên của Không lực Việt Nam Cộng hoà.

Khi đảo chính 1963 nổ ra, ông đứng về lực lượng đảo chính, nắm quyền chỉ huy không quân, tạo áp lực buộc lực lượng trung thành với tổng thống Ngô Đình Diệm phải đầu hàng.

Sau đảo chính, giống đa phần tướng lĩnh tham gia đảo chính và một số tướng "trung dung" và không tuyên bố ủng hộ hay có hành động giúp đỡ phe lật đổ (như Cao Văn Viên), đường hoạn lộ của ông hanh thông hơn trước nhiều. Ông trở thành Tư lệnh không quân, mang hàm Thiếu tướng và là Ủy viên của Hội đồng Quân nhân Cách mạng (được biết tới phổ biến hơn với tên gọi Hội đồng tướng lãnh). Tư cách Ủy viên Hội đồng tiếp tục là cơ hội để ông có bước tiến mới về chính trị, đặc biệt là sau khi Thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ bị buộc phải từ chức và tuyên bố trao quyền cho Hội đồng tướng lãnh. Ông được coi là thủ lĩnh của một phe quy tụ các tướng trẻ. Với việc Hội đồng tướng lãnh chính thức là người điều hành quốc gia, vị trí của ông càng được củng cố sau khi vị Thủ tướng kế nhiệm là Nguyễn Khánh gặp quá nhiều chống đối. Nguyễn Khánh,người là Đại tướng và thâu tóm tất cả các chức danh như Bộ trưởng Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng, Quốc trưởng... trong khi vẫn giữ ghế Chủ tịch Hội đồng Quân nhân cách mạng và Thủ tướng chính phủ, ngay lập tức gặp phải hàng loạt cuộc biểu tình phản đối của nhân dân cũng như cuộc đảo chính quân sự của Đại tá Phạm Ngọc Thảo và tướng Lâm Văn Phát vào tháng 2 năm 1965; và trước đó 3 tháng là một cuộc đảo chính quân sự khác - lần này cả 2 người cầm đầu là tướng-Dương Văn Đức và Lâm Văn Phát. Nguyễn Khánh phải từ chức Thủ tướng sau khi giữ ghế này chưa đầy năm. Sau sự thất thế nhanh chóng của Dương Văn Minh và Trần Thiện Khiêm (hai đại tướng trong bộ ba Khánh-Minh-Khiêm) và của chính phủ 3 tháng của Phan Huy Quát, Nguyễn Cao Kỳ chính thức trở thành Thủ tướng, chức danh được gọi một cách chính thức là Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương.

Chính ông là người ra quyết định cứng rắn, đàn áp cuộc đấu tranh của Phật giáo và mưu toan ly khai của tướng Nguyễn Chánh Thi ở miền Trung năm 1965. Một thời gian ngắn sau đó, vào năm 1966, Nguyễn Chánh Thi phải rời Việt Nam trong tình trạng bắt buộc và sống lưu vong tại Hoa Kỳ.

[sửa] Giai đoạn 1967-1975

Năm 1967, ông cùng với tướng Nguyễn Văn Thiệu ứng cử và đắc cử Phó tổng thống Việt Nam Cộng hòa nhiệm kỳ 1967-1971. Trong hồi kí cũng như phỏng vấn của một số cựu sĩ quan cao cấp của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, ban đầu ông giành được nhiều tín nhiệm trong giới quân nhân hơn Nguyễn Văn Thiệu và là người nhiều khả năng nhất có được sự đề cử duy nhất, trở thành đại diện duy nhất của quân đội tham gia bầu cử với vai trò ứng viên Tổng thống. Sự ủng hộ từ hàng ngũ các tỉnh trưởng dành cho ông cũng vượt trội so với sự hậu thuẫn mà Nguyễn Văn Thiệu có được. Tuy nhiên, sự bứt phá của Nguyễn Văn Thiệu sau khi ông này có được hậu thuẫn của những thế lực chính trị khác như từ phía lãnh đạo Công giáo miền Nam (Nguyễn Văn Thiệu là tín hữu Công giáo) và, quan trọng nhất, sự ủng hộ của chính quyền Hoa Kỳ đã làm Nguyễn Cao Kỳ được nhìn nhận là không phải người tốt nhất cho vị trí đại diện quân đội tham gia vòng bầu cử Tổng thống nữa. Nguyễn Cao Kỳ chấp nhận tham gia liên danh tranh cử Thiệu-Kỳ với vai ứng viên Phó Tổng thống. Lời tuyên bố của ông khi việc chọn ứng viên quân đội chưa ngã ngũ "...tôi sẽ trở về làm sếp không quân như cũ!" thường được trích dẫn với ám chỉ rằng đó là sự đe dọa sẽ gây khó dễ bằng các biện pháp quân sự nếu ông không thắng trong cuộc bầu chọn ứng viên. Lần bầu cử năm 1967, liên danh Thiệu-Kỳ thắng cử với chỉ trên 30% số phiếu và khoảng cách không vượt trội so với cặp đôi đứng sát sau[cần dẫn nguồn].

Từ năm 1968 trở đi là giai đoạn ông bị gạt ảnh hưởng ra khỏi các vị trí quan trọng trong chính quyền, dần chuyển sang vị thế đối lập với ê-kíp Nguyễn Văn Thiệu. Rút lui khỏi vòng bầu cử Tổng thống năm 1971 với những tố cáo công khai rằng đó là một trò hề chính trị, ông càng ngày càng xây dựng hình ảnh bản thân như là một trong những nhân vật bất đồng chính kiến gay gắt nhất đối với phe cầm quyền[cần dẫn nguồn]. Ở kì bầu cử Tổng thống này, Nguyễn Văn Thiệu-Trần Văn Hương là liên danh tranh cử duy nhất với kết quả chung cuộc là họ giành hơn 90% số phiếu bầu. Trước khi cuộc bỏ phiếu được tiến hành, Dương Văn Minh, người mới trở lại Việt Nam sau vài năm lưu vong, cũng tuyên bố rút lui. Mặc dù trước đó cũng tham dự cuộc chạy đua, rốt cuộc Dương Văn Minh cũng quyết định từ bỏ cuộc đua nữa sau khi tham khảo ý kiến của một số người, trong đó có Phạm Xuân Ẩn.

Năm 1975, trước thắng lợi và lo sợ sự trừng phạt của quân Cộng sản, ông đã thu xếp cho gia đình di tản và định cư tại Mỹ. Còn ông đã đào thoát bằng máy bay trực thăng do chính ông lái ra hàng không mẫu hạm Midway ngày 29 tháng 4 năm 1975 (trong chuyến bay này có cả tướng Ngô Quang Trưởng.

[sửa] Cuộc sống hiện tại

Ông Nguyễn Cao Kỳ tại nơi làm việc cũ trong dinh Độc Lập (2005). Người đứng bên phải là ông Vũ Mão, ở thời điểm đó còn là Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Việt Nam.

Ông Nguyễn Cao Kỳ hiện nay (2008), sau khi sống tại Hoa Kỳ, đã về Việt Nam bốn lần. Con gái ông, Nguyễn Cao Kỳ Duyên, là một ca sĩ, luật sư và là người dẫn chương trình nổi tiếng của cộng đồng người Việt hải ngoại. Khi trở về Việt Nam, ông được nhiều cấp cao của Việt Nam đón tiếp, đó là những người có trọng trách bên Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội và cả Mặt trận Tổ quốc (Chủ tịch Phạm Thế Duyệt).

Những ngày ở Việt Nam, ông là người đóng vai trò trung gian cho Đào Hồng Tuyển - người được coi là giàu nhất Việt Nam[cần dẫn nguồn] - thành công trong một thương vụ xây dựng resort và sân golf, được báo chí tường thuật là tới 1,5 tỉ USD với một doanh nhân Mỹ.

[sửa] Hình ảnh công cộng

[sửa] Giai đoạn trước 1975

Ông Nguyễn Cao Kỳ, khi còn làm việc trong quân đội và trong chính quyền Việt Nam Cộng hòa, đã có nhiều tai tiếng về ứng xử có tính tự đề cao cá nhân, những tuyên bố không hợp với tình hình lịch sử cũng như một số lem nhem về việc buôn lậu ma tuý... tất cả đã có ảnh hưởng đến uy tín của chính ông và của chính phủ Việt Nam Cộng hoà[cần dẫn nguồn].

Khi còn nắm quyền bính, với tác phong và cung cách ứng xử được mô tả là "phong trần, ngang tàng nhưng nghệ sĩ và phóng khoáng", dường như ông nhận được sự hâm mộ của nhiều người, đặc biệt là những sĩ quan trẻ tuổi cấp dưới. Tuy nhiên, theo nhận xét của nhiều người khác, ông bị coi là vô nguyên tắc và phải chịu trách nhiệm về những lời nói và hành xử "cẩu thả và vô trách nhiệm"[cần dẫn nguồn].

Thêm vào đó, hành vi của những người được coi là cùng cánh với ông cũng là nguyên cớ khiến ông trở nên mất uy tín. Một trong những vụ tai hại nhất là vụ của Nguyễn Ngọc Loan với bức ảnh chụp lại cảnh ông Loan nã súng bắn thẳng vào đầu một người Việt Cộng trong Tết Mậu Thân 1968. Nguyễn Ngọc Loan, người giữ chức vụ cao nhất tại Đặc ủy Trung ương Tình báo, là cấp dưới trực tiếp của Nguyễn Cao Kỳ khi ông là Tư lệnh Không quân (Nguyễn Ngọc Loan là Tư lệnh phó).

Một trong những lời tuyên bố được xem là tai tiếng của ông là trong một cuộc tụ họp quần chúng có quy mô lớn vào ngày 21-4-1975, ông công khai tuyên bố "tử thủ Sài Gòn cho đến giọt máu cuối cùng", quyết tâm biến Sài Gòn thành giống "Stalingrad đệ nhị"[1]; nhưng ngay sau đó vài hôm, vào ngày 29-4-1975, ông quyết định đi di tản.

[sửa] Giai đoạn định cư tại Hoa Kỳ

Theo lời tự thuật của ông với báo chí trong những lần trở về Việt Nam, khi rời khỏi Việt Nam ngay trước biến cố 30 tháng 4 năm 1975, ông chỉ kịp mang theo vài va-li nhỏ đựng vật dụng cá nhân và phải bỏ lại toàn bộ gia sản của ông, bao gồm một số lớn bất động sản, trang trại, máy móc, xe ủi tại Đà Lạt. Ông kiếm sống bằng cách đi làm thuê trong hơn 10 năm đầu sống trên đất Mỹ. Cũng theo tự thuật của Nguyễn Cao Kỳ, ông phải chịu nhiều châm biếm và dè bỉu từ người khác khi họ cho rằng ông chỉ làm bộ như vậy để che giấu món tài sản lớn mà ông đã mang theo trên thực tế[cần dẫn nguồn]. Những người cho rằng khi này ông thật sự nghèo khó thì so sánh ông với Nguyễn Văn Thiệu - người được đồn đại rộng rãi là đã kịp mang theo 16 tấn vàng khi rời khỏi Việt Nam. Ông tự nhận xét là trong một giai đoạn dài ông không nhận được thiện cảm của bất cứ ai cả[cần dẫn nguồn].

[sửa] Giai đoạn sau khi trở về Việt Nam

Sự trở về của ông cũng gây ra nhiều mâu thuẫn gay gắt. Đối với một số người, ông là sự phản bội và bị phản đối ở nhiều nơi. Nhưng với một số người khác, ông được xem như một biểu hiện của hòa giải, gác bỏ hận thù quá khứ[cần dẫn nguồn]. Ông đã tuyên bố ủng hộ Nhà nước Việt Nam và lên tiếng chỉ trích những người tự xưng là đang tranh đấu cho dân chủ tại Việt Nam, và theo ông thì chuyện một số người Việt ở hải ngoại đòi Việt Nam có một thể chế dân chủ như ở Hoa Kỳ là điều rất sai lầm, vì dân chủ kiểu đó không phù hợp với thực trạng Việt Nam lúc này. [2]. Ông đã về Việt Nam nhiều lần và chuẩn bị cho ấn hành tập hồi ký Con cầu tự tại Việt Nam. Cuốn sách này được thông báo là sẽ được phát hành với số lượng vào cỡ 4000 bản.

Trước đó, ông cũng công bố một số bài viết (phần nhiều trước năm 2000) về Chiến tranh Việt Nam, chẳng hạn như những bài phân tích và mô tả binh sĩ Quân lực Việt Nam Cộng hòa không thể hoàn toàn thích nghi với lối huấn luyện, lối trang bị vũ khí tốn kém và đắt tiền kiểu Mỹ cũng như cách thức tiến hành chiến tranh theo kiểu nhà giàu. Ông cũng phê phán sự phụ thuộc thái quá của miền Nam, trên hầu như tất cả mọi phương diện, vào người "đỡ đầu" của họ là chính quyền Hoa Kỳ.

Tuy vậy, cho tới rất gần đây, vẫn xuất hiện những chỉ trích nhắm vào Nguyễn Cao Kỳ, kể cả từ những cựu quân nhân được coi là kín tiếng nhất và được tôn trọng về đạo đức như Cao Văn Viên. Tướng Cao Văn Viên, cựu Tổng Tham mưu trưởng quân đội Việt Nam Cộng hòa, trong môt bài phỏng vấn lúc cuối đời, phê phán Nguyễn Cao Kỳ là khoác lác và nhận về mình công trạng của người khác, cụ thể là trong trường hợp chính quyền Việt Nam Cộng hòa sử dụng biện pháp cứng rắn và đàn áp thành công những cuộc phản kháng của Phật tử Huế vào năm 1968. [3]

[sửa] Câu nói nổi tiếng

  • "Đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ và chúng tôi là những kẻ đánh thuê."
(trả lời trong cuộc phỏng vấn Báo Thanh Niên Xuân Ất Dậu, ngày 25 tháng 1, 2005)

[sửa] Tham khảo

  1. ^ Stalingrad, trong Thế chiến thứ hai đã đứng vững trước sự tiến công của quân Đức Quốc xã trong ngót 100 ngày, sau đó quân đội Đức bị bao vây và tiêu diệt trong thành phố
  2. ^ Cựu phó Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố ủng hộ chế độ cộng sản
  3. ^ Mạn Đàm Với Đại Tướng Cao Văn Viên - Lâm Lễ Trinh, đăng tại lenduong.net.

[sửa] Xem thêm

đỗ quý doãn , người chuyên bịt miệng nhà báo ,bịt miệng dân .


CSVN kềm chế hệ thống blog đầy sinh lực trong nước

» Tác giả: Tim Johnston
» Dịch giả:
» Thể lọai: Chính trị - Xã hội
» Số lần xem: 79

1. CSVN kềm chế hệ thống blog đầy sinh lực trong nước


Tim Johnston, Washington Post, 18/01/09, Nguyễn Phương Nga lược dịch


Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều quyết định trong những tháng gần đây để ngăn chặn việc xử dụng blog, vì con số những người dùng Internet đang tăng vọt trong đất nước cộng sản này.

Chiến dịch trên bắt đầu vào tháng 8, khi chính phủ công bố một nghị định cho phép công an có một quyền hạn rộng rãi để ra tay đối phó với thành phần chỉ trích nhà nước trên mạng, trong đó cả những người chống đối “nhà nước CHXHCN Việt Nam”, phá hoại an ninh quốc gia và trật tự xã hội.

Nghị định cũng cấm “khiêu dâm truỵ lạc … và phá huỷ phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc”, theo tin tức đăng tải trên tờ báo mạng của Bộ Thông tin Truyền thông.

Việt Nam là một quốc gia đến với thời đại Internet tương đối khá trễ, nhưng mức tăng trưởng kinh tế phi thường trong vài năm qua đã tạo ra một sự gia tăng mạnh mẽ tương tự trong những người xử dụng Internet. Nhiều ước lượng cho thấy khoảng 24 triệu trong tổng số dân 84 triệu người thường xuyên lên mạng. Các dịch vụ thì có đầy rẫy để cho những ai không thể sắm nổi máy tính, và nhiều cửa tiệm nhỏ bán các nhu liệu vi phạm bản quyền cho những người có máy.

Trong một môi trường mà thông tin bị kiểm soát nặng nề bởi truyền thông nhà nước, thì các blogger đã nhanh nhẩu tìm ra được nhiều khả năng mà thế giới Internet có thể cung cấp cho họ. Tin tức về đất nước, phần lớn là từ các cơ quan truyền thông nước ngoài, và những bài bình luận chính trị thường xuyên phê phán chỉ trích chính phủ đã trở thành một nhu cầu cần thiết hàng đầu. Do đó, những bàn cãi về tương lai chính trị của đất nước, dù có hoặc không có Ðảng Cộng sản, đã trở nên sôi nổi.

“Ðây là một môi trường trí tuệ không được đồng đều”, theo bà Kim Ninh, người đứng đầu tổ chức Asia Foundation ở Hà Nội, khi nói về hệ thống của các trang blog, Bà nói, “Có rất nhiều chuyện đánh bùn sang ao, nhưng ở bên dưới là cả một truyền thống trí tuệ có từ thời kỳ thực dân Pháp trong các thập niên 20s, 30s, và 40s đang tiếp tục tràn tới. Họ tiếp nhận các đề tài tranh luận chính trị rất nghiêm túc. Mọi người vào các trang blog để tìm những tin tức mà họ không thể lấy được từ truyền thông chính thức”.

Hành động của nhà nước đối với việc tham gia vào các blog đã khêu gợi nên một phản ứng gay gắt từ những người cổ xuý cho tự do ngôn luận, “Việt Nam là một trong vài nước mà người dân có thể bị bỏ tù vì các tội danh như ‘lợi dụng quyền tự do dân chủ’. Các nhà tài trợ cho Việt Nam nên tiếp tục đòi hỏi nhà nước phải chấm dứt hành động hình sự hóa việc bày tỏ tư tưởng một cách ôn hòa”, theo ông Brad Adams, giám đốc Á châu của tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch cho biết trong một thông cáo báo chí hôm Thứ Năm.

Sau một thời gian tương đối được tự do, khi các nhà báo trên mạng và báo giấy thử đi vào những phạm vi mà họ có thể đăng tải được, thì nhà cầm quyền mới đây lại bắt đầu đàn áp.

Cuối năm ngoái, toà án áp đặt một bản án tù hai năm lên một nhà báo sau khi ông ta viết một loạt bài vạch trần tham nhũng, và một blogger nổi tiếng được biết qua biệt danh Ðiếu Cày, có tên thật là Nguyễn Văn Hải, bị kết án 2 năm tù vì tội trốn thuế trong một trường hợp được khắp nơi coi như một sự trừng phạt vì anh ta tham gia vào blog.

Peter Leech, một người Úc đã thành lập ra ở Việt Nam một trang web, Intellasia.net, nhằm thu thập các tin tức phổ biến, bắt đầu gặp nhiều khó khăn với nhà cầm quyền vào tháng 6/2007. Ông ta nói rằng công an thường xuyên lục soát văn phòng Intellasia, máy chủ đặt trang web ở Hoa Kỳ bị tấn công và cuối cùng ông buộc phải bỏ chạy khỏi Việt Nam.

“Họ đang trở nên cứng rắn hơn đối với mọi thứ -báo chí, internet, mọi thứ”. Ông Leech nói từ thành phố Perth ở nước Úc.

Ðại đa số các blogger ở Việt Nam dùng các bộ phận nền tạo lập ra các trang blog của Yahoo và Google, và nhà nước nói rằng họ sẽ tranh thủ để tìm sự trợ giúp của các công ty này trong việc giám sát mạng internet.

“Các nhà cung cấp dịch vụ sẵn lòng hợp tác với các cơ quan Việt Nam”, theo Ðỗ Quý Doãn, thứ trưởng bộ Thông tin Truyền thông cho biết tại một cuộc họp báo hồi cuối tháng trước. “Tôi nghĩ là các nhà cung cấp dịch vụ cũng mong muốn có một môi trường internet sạch sẽ, Tôi nghĩ nếu các cơ quan nhà nước Việt Nam yêu cầu hợp tác, thì Google hoặc Yahoo cũng sẽ sẵn lòng”.

Bộ phận nền (platform) tạo lập ra blog phổ biến nhất đối với giới blogger Viêt Nam là Yahoo 360. Công ty Yahoo cho biết trong tuần này rằng họ chưa được nhà nước Viêt Nam tiếp xúc về bất cứ sự kiểm soát nào.

“Như một chính sách chung, thì công ty Yahơo cũng như các công ty khác trên thế giới, được yêu cầu phải tuân hành theo các luật lệ do các chính phủ đòi hỏi khi công ty là đối tượng lệ thuộc vào luật pháp của nước đó”, Yahơo nói trong một thông cáo, chỉ rõ ra cho thấy rằng bộ phận nền Yahoo 360 được vận hành từ Singapore

Ðể xem coi nhà nước Việt Nam có thể kiểm soát thành công Internet như thế nào. Như Trung Quốc đã cho thấy, có kỹ thuật tồn tại để ngăn chận các nội dung mà nhà nước không muốn, ít nhất là từ những người xử dụng thất thường. Nhưng không giống như những người xử dụng Internet của Trung Quốc, là nơi chính phủ của họ kiểm duyệt Internet từ lúc ban đầu, còn những người xử dụng ở Việt Nam đã có 8 năm được hưởng sự truy cập vào Internet không bị ràng buộc, vốn là điều mà họ coi là một quyền tự do.

Ông Leech nói về các quan chức nhà nước, “Nếu họ làm một vài điều gì đó khắc nghiệt, thì không những nó chỉ là một bước đi lùi to lớn, mà nó còn làm mọi người rất giận dữ”.


2009-01-18 19:08:11


Nhìn vào chế độ Cộng sản Việt Nam (qua hồi ký của một cán bộ trung kiên)

» Tác giả: Trần Bình Nam
» Dịch giả:
» Thể lọai: Bài viết
» Số lần xem: 2143

1. Nhìn vào chế độ Cộng sản Việt Nam (qua hồi ký của một cán bộ trung kiên)

Cuối đời nhớ lại (tập I)

Một cán bộ cộng sản cao cấp, ông Nguyễn Thành Thơ vừa viết cuốn hồi ký Cuối Đời Nhớ Lại để đọc giữa bạn bè và đồng chí của ông ở trong nước. Cuốn hồi ký này có thể cũng cùng số phận với nhiều tác phẩm của các cựu cán bộ, đảng viên cộng sản khác, không được phép in thành sách phổ biến rộng rãi mà chỉ được phép “photocopy” gởi chuyền tay nhau một cách hạn chế.

Hồi Ký Cuối Đời Nhớ Lại viết xong ngày 6 tháng 5 năm 2003, và ông Nguyễn Thành Thơ đã mang đến dự tang lễ của một người cán bộ từng hoạt động với ông vừa quá cố và vái tặng trước linh cữu bạn như một kỷ niệm để cùng nhớ lại một thời đã qua. Do một sự tình cờ tôi đọc được tập hồi ký của ông Nguyễn Thành Thơ.

Trong tập Hồi ký ông Nguyễn Thành Thơ cho biết tổ tiên ông sống tại Nghệ An vào thế kỷ 18. Ông tổ mấy đời trước đi lính Tây Sơn phục vụ trong đoàn quân của bà Bùi Thị Xuân. Trong trận đánh cuối cùng với vua Gia Long đầu năm 1802, quân Tây Sơn tan vỡ, bà Bùi Thị Xuân bị bắt [1], ông chạy về quê bế một đứa con trai 10 tuổi xuống thuyền trốn vào Nam để tránh việc trả thù của vua Gia Long. Ông không tái giá, ở vậy nuôi con, và người con đã tạo ra dòng họ “Nguyễn Thành” tại đồng bằng sông Cửu Long.

Ông Nguyễn Thành Thơ sinh năm 1925 tại làng Vĩnh Xuân, huyện La ghì, tỉnh Vĩnh Long. Cha ông là Nguyễn Ngươn Hanh sinh năm 1863, có nho học và làm nghề thuốc Bắc. Ông Hanh tham gia phong trào chống Pháp từ khi Pháp vừa đặt xong nền đô hộ tại Việt Nam. Năm 62 tuổi mới sinh ra ông Thơ với bà vợ thứ hai Nguyễn Thị Phước. Ông Nguyễn Ngươn Hanh bị Pháp cầm tù và chết tại Côn Đảo năm 1942 thọ 79 tuổi.

Tập hồi ký này khác với các tập hồi ký khác ở chỗ, ông Nguyễn Thành Thơ tham gia cuộc tranh đấu chống Pháp giành độc lập lúc mới 14 tuổi cùng với các sĩ phu yêu nước khác trong đó có thân phụ ông. Trong quá trình tranh đấu, thân sinh ông tham gia đảng cộng sản, nên ông cũng tham gia đảng cộng sản. Ông không tham gia Đảng cộng sản vì mê thuyết Mác Xít. Ông chỉ muốn theo chân thân phụ chống Pháp. Ông thoát ly gia đình trước cuộc cách mạng 1945 khi tuổi chưa đầy 20. Ông kinh qua cuộc đấu tranh chống Pháp cho đến khi ký hiệp định Genève (năm ông 29 tuổi) chia đôi đất nước. Ông được Đảng cộng sản bố trí ở lại, không tập kết ra Bắc, và tiếp tục tham gia cuộc đấu tranh chính trị và vũ trang chiếm miền Nam do Hà Nội chỉ đạo.

Ông Nguyễn Thành Thơ đóng góp và chứng kiến cuộc đại thắng của Đảng cộng sản năm 1975, sau đó trong đại hội 4 Đảng cộng sản (1976) ông trở thành Uỷ viên TW Đảng. Ông có tất cả ưu thế và điều kiện để leo lên những chức vụ cao hơn trong Đảng và trong guồng máy cầm quyền. Nhưng vốn là một người còn lương tri, thấy những đường lối sai lầm của Đảng mà việc trước mắt sau năm 1975 là quyết định xoá bỏ nền kinh tế thị trường tại miền Nam Việt Nam, và có đủ can đảm cùng với các cán bộ gắn bó với miền Nam khác như Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt, Trần Bạch Đằng tỏ ý bất đồng với chính sách này và ông bị loại ra khỏi TW Đảng kể từ đại hội 5 năm 1981. Ông từng chống lại chính sách kỳ thị đệ tam, đệ tứ, chính sách đối đãi với đảng viên Đại Việt của những năm 1945 khi công cuộc chống Pháp bùng nổ, chống lại những sa đoạ của cán bộ an ninh, chống chính sách đối với đồng bào gốc Miên tại các tỉnh miền Nam.

Nhưng đó là những chuyện nhỏ. Chuyện lớn là ông từng chống lại chính sách xoá bỏ nền kinh tế cá thể tại miền Nam năm 1976 (tuy đồng ý về thống nhất chính trị Bắc Nam). Ông chống chính sách hợp tác xã nông nghiệp mà ông biết sẽ làm cho nông dân mất hứng thú sản xuất, và ông chống chính sách ngăn sông cách chợ mà ông biết sẽ làm cho dân đói.

Tuy nhiên, nhờ công lao và sự trung thành với Đảng ông Nguyễn Thành Thơ không bị loại ra khỏi các chức vụ dưới cấp TW Đảng và ông đã tiếp tay với Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt và sự ủng hộ ngầm của Trường Chinh thúc đẩy quyết định “đổi mới” kinh tế tại Đại hội 6 năm 1986. Tại đại hội này Nguyễn Văn Linh đắc cử Tổng Bí thư thay thế Trường Chinh.

Ông Nguyễn Thành Thơ nghỉ hưu năm 1992 lúc ông 67 tuổi. Ông được cấp 30 mẫu tây đất tại huyện Tân Uyên tỉnh Bình Dương trồng cây ăn trái và lấy gỗ và nhờ đó có một đời sống vật chất sung túc.

Ông không phải là một người chống Đảng.

Nét đặc biệt của ông Nguyễn Thành Thơ là ngay thẳng không biết xu nịnh, lại hay nói không thuận chiều với những chính sách giáo điều của Đảng nên cấp trên không ưa ông. Họ không cất nhắc ông lên các chức vụ then chốt của đảng nhưng không ghét ông vì ông là một người trung thành, đơn giản và được sự kính mến che chở của bạn bè trong Đảng bộ miền Nam và không đe doạ quyền lực một ai. Cán bộ cao cấp gốc miền Nam đồng thời với ông như Võ Văn Kiệt, Trần Bạch Đằng rất quý nể ông vì tính tình phóng khoáng hết lòng sống chết với bạn bè đồng chí. Ông Nguyễn Thành Thơ là người dám làm những việc ngoài đường lối của đảng, nhưng luôn luôn chứng tỏ mình là một đảng viên trung thành có thể chết vì đảng.

Kết thúc sự nghiệp của ông không có gì để ca ngợi, ngoại trừ những dòng chữ trong tập hồi ký Cuối Đời Nhớ Lại vô tình cho chúng ta thấy một số sự kiện có tính lịch sử. Ông Nguyễn Thành Thơ từng giữ những chức vụ quan trọng, và từng có dịp tiếp xúc với tất cả các lãnh tụ như Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp… nên những mẩu chuyện ông kể lại trong hồi ký hé mở cho chúng ta thấy cá tính của những con người từng nắm vận mệnh nước Việt Nam và giúp chiếu rọi ánh sáng vào những vấn đề lớn khác như: Hà Nội nghĩ gì về Hiệp Định Genève năm 1954, cuộc tấn công của Bắc Kinh qua biên giới Việt Nam năm 1979… Và từ đó lý giải tại sao đất nước Việt Nam đang trải qua hoàn cảnh hôm nay.

Trong thời gian ông lãnh nhiệm vụ lãnh đạo địch vận, ông từng là người chỉ huy tướng Dương Văn Nhựt được gởi từ miền Bắc vào Nam để tiếp xúc với tướng Dương Văn Minh. Sự việc ông kể lại công tác này (nếu ông Nguyễn Thành Thơ ghi lại chính xác) có thể giúp cho các nhà viết sử về sau nghiên cứu một nghi vấn quan trọng.

Sau đây là vài trích dẫn:

Lê Duẩn và hiệp định Genève: Năm 1954 hiệp định Genève vừa ký xong, đảng cộng sản gởi Lê Duẩn vào Nam để lãnh đạo đảng bộ miền Nam chuẩn bị cho cuộc tổng tuyển cử hay cuộc nổi dậy. Ông Nguyễn Thành Thơ ghi lại buổi học tập do Lê Duẩn chủ toạ:


“Học lớp chính trị do anh Lê Duẩn giảng “Hiệp định Genève và đấu tranh thi hành hiệp định Genève” trong đó có những ý quan trọng như: Ta không tán thành ký kết Hiệp định Genève, do Trung quốc, Liên xô ép. Mỹ sẽ trở thành kẻ xâm lược chính. Đảng bí mật, tổ chức quần chúng bán công khai và công khai. Cảnh giác chiến tranh, do đó phải giấu một số quân và vũ khí …” (Cuối Đời Nhớ Lại, trang 83)


Quản lý nhân sự thoát ly: Nhân sự thoát ly bị cắt dứt hoàn toàn với gia đình để tránh việc trốn về với gia đình sau khi thấy được mặt thật của Đảng. Ai bỏ trốn sẽ bị bắn bỏ. Ông Nguyễn Thành Thơ thuật lại chuyện một cán bộ văn nghệ nữ đã tự sát vì bị bao vây. Cô ta ắt là đã gởi nhiều thư thăm hỏi gia đình không được cơ quan chuyển:


“Có nữ đồng chí tên là Nhị Hà khoảng 30 tuổi, người Bến Tre, xinh đẹp, đi tập kết, được đi học Liên Xô về đạo diễn, về miền Tây là cán bộ đạo diễn ở cơ quan văn nghệ Khu. Dự họp, mặc quần áo bà ba cũn cỡn của thiếu nữ càng thêm xinh đẹp, giờ giải lao lên ca hát phục vụ, được cuộc họp vỗ tay nhiệt liệt tán thưởng. Một hôm khoảng 10 giờ đêm, có một cán bộ đến báo, đêm vừa rồi cơ quan văn nghệ Khu có cuộc họp liên hoan, có một cán bộ cởi nịt súng máng lên vách. Nhị Hà gỡ lấy súng, lên đạn rồi nói ‘Xin từ giã anh chị em, tôi chết’. Các học trò diễn viên khóc mướt, nói không ra lời, tất cả đều lấn vào tranh thủ giựt súng. Nhị Hà chĩa súng vào màng tang nói ‘Các anh chị em ngồi yên để tôi sống thêm một lúc nữa, còn tìm cách giựt súng tôi sẽ nổ súng chết ngay’. Anh chị em hỏi ‘Vì sao muốn chết’. Nhị Hà nói: ‘Tôi có chồng, gởi thơ cho chồng không biết bao nhiêu lần vẫn không thăm tôi, vẫn không thơ trả lời. Tôi còn mẹ, nhờ người đi rước nhiều lần vẫn không gặp tôi… Trong hoàn cảnh cô đơn nhớ chồng con, cha mẹ anh em không tả nổi, không có tương lai sum họp, chỉ muốn chết thôi. Nếu anh chị em thương tôi chôn tôi bên ngoài một góc nghĩa trang nào đó để tôi luôn gặp người qua lại chào mừng, chung quanh mộ trồng bông mười giờ là loại hoa tôi ưa thích nhất’. Nói xong bóp cò, súng rớt, đưa đi quân y, nửa đường tắt thở.” (Cuối Đời Nhớ Lại, trang 119)


Về cải cách ruộng đất: Cho đến nay người ta tưởng cuộc cải cách ruộng đất giết chết phú nông và địa chủ chỉ diễn ra tại miền Bắc khoảng năm 1953, 1954 thôi. Sự thật những nhà lãnh đạo giáo điều của Đảng đã ra lệnh cải cách ruộng đất tại miền Nam vào năm 1964, 1965 khi cộng sản đã kiểm soát được một phần lớn đồng bằng sông Cửu Long theo mô thức đấu tố đã làm tại miền Bắc. Lệnh này cho thấy cuộc cải cách ruộng đất tại miền Bắc giết oan biết bao nhiêu nông dân, sau đó cải sửa, Hồ Chí Minh khóc nhận sai lầm chỉ là một màn kịch. Tuy nhiên các cán bộ miền Nam thấy tình hình đất đai và quan hệ giữa địa chủ và nông dân ở miền Nam không có gì giống với điều kiện ở miền Bắc như chỉ thị mô tả và đã tỏ ý không hăng hái thi hành.

Ông Nguyễn Thành Thơ thuật lại rằng, khoảng năm 1964 khi đang công tác tại đồng bằng sông Cửu Long ông được gọi về trình diện Cục R [2]. Tại R, ông được lệnh về tổ chức “Phát động quần chúng cải cách ruộng đất một cách toàn diện và triệt để”. Nghe giải thích cả ngày ông vẫn không thông, và sau khi cho điều tra thực trạng ông không thấy có địa chủ theo tiêu chuẩn ngoài Bắc hay tại Trung Quốc, và cũng không có nông dân bị hiếp đáp để đứng ra tố khổ như ngoài Bắc. Hỏi ý Nguyễn Chí Thanh lúc đó chỉ huy Cục R, Nguyễn Chí Thanh cũng mù mờ không quyết, sau đó điện ra Bắc hỏi Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh bảo không làm được thì ngưng lại. (Cuối Đời Nhớ Lại, trang 120, 121)

Về chính sách giết nhầm hơn bỏ sót: Ông Nguyễn Thành Thơ kể rằng trong thời gian xâm lăng miền Nam, công an cộng sản được lệnh “thà giết lầm hơn bỏ sót”. Ông viết:


“Ban an ninh khu có trại giam kể là tử tội, ở xã thuộc huyện Thanh Tri – Sóc Trăng có chỉ thị cho ban cai quản trại giam, khi địch đánh vào trại giam, phải xử tử ngay không để dịch giải thoát”. (Cuối Đời Nhớ Lại, trang 122)



Ở một đoạn khác ông Nguyễn Thành Thơ viết rằng khi ông mang vấn đề này ra kiểm điểm và hỏi chủ trương như vậy có sai trái gì không thì một cán bộ an ninh tên là Ba Hương giải thích:


“Xưa nay làm công tác an ninh thường có quan điểm thà giết lầm chứ không thả lầm”. (Cuối Đời Nhớ Lại, trang 123)


Phê phán nội bộ về tấn công Mậu Thân: Cuộc tấn công Mậu Thân 1968 trên toàn quốc Đảng cộng sản xem như một thắng lợi lớn, nhưng sự thật cuộc tổng tấn công đã thất bại khắp nơi, và tổn thất nhân mạng về phía cộng sản rất nặng nề vì chiến thuật địa phương lủng củng thiếu thống nhất. Thuật lại việc phê phán nội bộ sau trận Mậu Thân ông Nguyễn Thành Thơ ghi nhận ba đợt tấn công theo chỉ thị của cục R đều thất bại. Phần ông bị phê bình. Ông viết trong bản kiểm điểm:


“Tấn công đợt 1, Khu uỷ ai cũng nói “a thần phù” và vỗ đít, không chủ động. Đợt 2 trong tình hình địch cảnh giác phòng thủ chặt ta tấn công sẽ bị đỡ ngực nên nhiều đồng chí đều có ý kiến chuyển hướng tấn công, chủ yếu vào nơi địch sơ hở và ta có chuẩn bị. Khuyết điểm tinh thần tấn công của tôi theo chỉ đạo trên là bế tắc, không tìm được chỗ yếu của địch và nghiên cứu cách tần công địch không đỡ được. Do tấn công vào điểm trong đợt 2 ta bị tiêu hao nhiều quá, ai cũng thắc mắc. Trong cuộc hội nghị Khu uỷ thống nhất củng cố ba thứ quân và chuyển hướng tấn công không đúng chỉ đạo bên trên.” (Cuối Đời Nhớ Lại, trang 136)



Vì những lẽ trên ông Nguyễn Thành Thơ nói ông không thể làm theo chỉ thị vì sẽ có nhiều tổn thất. Nhưng trong bản kiểm điểm ông nhận lỗi như cấp trên muốn. Ông viết:


“Trong chấp hành chỉ đạo tấn công dứt điểm đô thị, tôi có khuyết điểm cầu an tiêu cực tấn công, không dứt điểm được các mục tiêu đô thị ở Khu 3”. (Cuối Đời Nhớ Lại, trang 136)


Địch vận tướng Dương Văn Minh: Một tiết lộ có giá trị lịch sử nhất là nỗ lực vận động (từ năm 1963 đến năm 1968) sự hợp tác của tướng Dương Văn Minh bất thành do chính ông Nguyễn Thành Thơ thực hiện (thời gian 1968 làm Trưởng ban Binh vận R, một chức vụ chỉ giao cho cấp Uỷ viên TW đảng) theo lệnh của Phạm Hùng. Hà Nội đã đưa tướng Dương Văn Nhựt (em của tướng Dương Văn Minh) từ miền Bắc vào tiếp xúc với Dương Văn Minh, và tướng Dương Văn Minh đều thông báo cho toà đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn biết nội dung các cuộc tiếp xúc này.

Năm 1968, sau trận Mậu Thân và Hoa Kỳ đang xuống thang chiến tranh. Tại bộ chỉ huy Trung ương cục R, Phạm Hùng làm việc với Nguyễn Thành Thơ. Nguyễn Thành Thơ ghi:


“Anh Phạm Hùng bàn ‘Mỹ xuống thang chiến tranh, nội bộ nguỵ sẽ mâu thuẫn chia rẽ lật đổ nhau, anh tổ chức tranh thủ Dương Văn Minh lợi dụng thời cơ để chiếm địa vị trong nguỵ quyền để thực hiện hoà hợp dân tộc, chấm dứt chiến tranh’. Trung ương cục có điện kêu Dương Văn Nhựt (vốn là tướng trong hàng ngũ cộng sản, em ruột tướng Dương Văn Minh) cộng tác với tôi thực hiện.”

“Dương Văn Nhựt đến làm việc với tôi. Trước nhứt tôi hỏi Dương Văn Nhựt ‘quá trình qua Dương Văn Minh đối với ta có biểu lộ cảm tình gì không’. Nhựt trình bày ‘Thời Ngô Đình Điệm, Dương Văn Minh đảo chánh Diệm, đảng có kêu tôi gặp Minh, bảo với Minh khi làm tổng thống thì bãi bỏ ấp chiến lược đi. Minh trả lời ‘sẽ bãi bỏ ấp chiến lược nhưng chùa Phật, Thiên chúa được dựng lên theo gom dân lập ấp chiến lược vẫn giữ. Khi ta tấn công Mậu Thân Đảng bảo tôi (Dương Văn Nhựt) đến gặp Minh. Tôi đến nhà Minh, biết Minh đi Thuỵ Sĩ tôi lên ngay máy bay đi Thuỵ Sĩ, biết Minh về Thái Lan, tôi theo về Thái Lan, gặp được Minh tôi nói: ‘Ông Nguyễn Hữu Thọ mời Minh về tham gia Mặt Trận Giải Phóng và Chính Quyền liên hiệp’ Minh nói : ‘không biết làm chính trị, việc đó dành cho ông Thọ’. Tôi (Nguyễn Thành Thơ) nói với Nhựt ‘Như vậy Minh là một nhân vật trung gian, có quan điểm trung gian, theo địch vẫn có cảm tình với ta, vậy Nhựt đi làm việc với Minh là đi tranh thủ Minh lợi dụng tình hình, để giành địa vị trong nguỵ quyền, hiệp thương với ta thực hiện hoà hợp’. Nhựt nói ‘Yêu cầu như thế ta tranh thủ hướng dẫn Minh giành quyền rất dễ, tôi tin Minh sẽ hăng hái làm theo’

“Khi Nhựt về, báo cáo: ‘Đến nhà Minh gặp mẹ tôi, mẹ tôi ôm tôi khóc, tôi cũng khóc, thấy vợ chồng Minh rất xúc động. Vợ Minh lo ăn nghỉ cho tôi rất chu đáo, con Minh vui mừng vì có người chú trong hàng ngũ cách mang. Tiếp theo, khi nào Minh rảnh rỗi, tôi nói chuyện với Minh nhiều chủ đề để xiết vô chủ đề tranh thủ Minh, nói hướng dẫn của ta thêm thuận lợi. Minh chỉ hỏi để hiểu rõ thêm ý của ta, không thấy phản ứng gì’.

“Đến ngày chót Minh tổ chức chiếu bóng cho gia đình xem. Minh ngồi trên xe, tôi ngồi một bên, một người Mỹ ngồi một bên, người Mỹ luôn lén nhìn tôi. Sau đó Minh cho xe đưa tôi về Tây Ninh. Theo tôi (Dương Văn Nhựt) nhận xét, Minh ngồi gữa coi chiếu bóng, có một người Mỹ ở bên, để ngầm cho tôi biết, Minh giành chức vụ trong chính quyền nguỵ để thương lượng với ta được một trường phái Mỹ ủng hộ.

“Tôi (Nguyễn Thành Thơ) báo cáo anh Phạm Hùng …, anh Phạm Hùng nói đại ý: ‘Ta đoán Mỹ sẽ xuống thang chiến tranh, ta hoạt động mạnh, nguỵ suy yếu sẽ đẻ ra lủng củng. Minh nghe lời ta có thể đạt được mong muốn. Kể từ nay cắt đứt liên lạc để tránh lộ liễu, chuyện có quá trình, có đi sẽ đến. Trả Dương Văn Nhựt về Bắc”.

“Cuộc vận động theo Nhựt nói lại, đến 30-4-1975, Phòng chính trị Bộ Tư Lệnh cấm không được nói cho ai biết, nên Nhựt không dám hé môi”. (Cuối Đời Nhớ Lại, trang 139, 140)


Chiến tranh Việt Trung 1979: Khoảng cuối năm 1978 khi tình hình biên giới Việt-Kampuchia và Việt –Trung căng thẳng, quân lính Kampuchia thường vượt biên giới cướp của và giết người mà Việt Nam không có đối sách gì. Trong một dịp Tổng Bí thư Lê Duẩn đi thăm huyện Cần Giờ có Huyện uỷ và 30 cán bộ cao cấp khác tháp tùng, Nguyễn Thành Thơ ghi:


“Lê Duẩn nói ‘Các anh có gì hỏi tôi giải đáp’. Anh em phấn khởi rộ lên ‘Xin hỏi K nó quấy rối biên giới ta, tàn sát cướp phá rất dã man điên cuồng, sao ta đối phó rất lôi thôi, chúng tôi khó hiểu’. Anh Lê Duẩn trả lời ‘Các đồng chí hỏi đúng là một tình hình cả nước đều quan tâm, chúng tôi đau đầu lắm ngủ không được, không phải là vấn đề Khmer đỏ, vấn đề Pôn Pốt mà là vấn đề ai đằng sau Khmer đỏ, Pôn Pốt. Lần này ta có đưa đại quân đâu, bọn nó làm sao chống ta nổi, nhưng ta đánh nó, Trung Quốc đánh ta thôi, nhưng ta không chiếm K, Trung Quốc cũng không chiếm ta.” (Cuối Đời Nhìn Lại, trang 159)


Ý kiến của cán bộ cao cấp miền Nam về thống nhất đất nước: Nội bộ cao cấp của đảng cộng sản Việt Nam có ý kiến khác biệt về cách thống nhất đất nước, thống nhất chính trị mà không thống nhất kinh tế hay thống nhất cả chính trị và kinh tế. Ông Nguyễn Thành Thơ viết như sau về các cuộc thảo luận ở cấp cao:


“Lần đầu tiên dự cuộc họp cán bộ hội nghị toàn quốc tại trường công an thành phố tại Thủ Đức do anh Lê Duẩn chủ trì, trong cuộc họp tôi nhớ các anh nói về thống nhất đất nước, vấn đề tôi nhớ mãi là anh Linh (Nguyễn Văn Linh) phát biểu ‘Thống nhất đất nước, tiến hành ngay thống nhất lãnh thổ, thống nhứt Đảng, đoàn thể, Mặt trận, Nhà nước, thống nhứt quân đội… Nhưng đề nghị khoan thống nhứt kinh tế, để nó được phát triển như nó có, ta xem ưu khuyết, cái gì phát huy, cái gì bỏ đi.” (Cuối Đời Nhớ Lại, trang 160)


Trong một cuộc họp sau đó tại Hà Nội do Trường Chinh chủ trì, ông Nguyễn Thành Thơ ghi rằng một số cán bộ miền Bắc phê bình:


“Có một số cán bộ Đảng viên (ám chỉ cán bộ miền Nam) không muốn thống nhứt đất nước để hưởng thụ”. Ngày nghỉ họp, anh Bạch Đằng (Trần Bạch Đằng) đến gặp tôi, kéo tôi đi, nói: ‘Tôi anh đến gặp anh Sáu Thọ’ (Lê Đức Thọ). Đến nhà anh Sáu Thọ anh vui vẻ tiếp, anh Bạch Đằng nói: ‘Tôi không tán thành cuộc họp lần này, Trung ương có nhận xét một số Đảng viên không muốn thống nhứt đất nước, chúng tôi tán thành thống nhứt tất cả, chỉ có một điểm kinh tế để như nó có, lại nhận xét chúng tôi không muốn thống nhứt, lại nói chúng tôi để hưởng thụ. Chúng tôi lo là lo nền kinh tế suy sụp đời sống nhân dân khó khăn, nếu nói đó là để hưởng thụ thì nhân dân được hưởng thụ, còn thống nhứt để dân nghèo thì chính trị đất nước thế nào’ Anh Sáu Thọ nói ‘Kinh tế là nền tảng, không thống nhứt kinh tế, tất cả các vấn đề khác thống nhứt không có nghĩa gì.’ Hai anh cãi với nhau rất gay gắt đến mức đứng lên ngồi xuống quơ tay. Tôi ngồi rất lo …” (Cuối Đời Nhớ Lại, trang 160)


Đói do thống nhất kinh tế, ngăn sông cấm chợ: Trong thời gian 1976, 1977 dù một số cán bộ miền Nam như Nguyễn Văn Linh, Trần Bạch Đằng chống thống nhứt kinh tế, nhưng Lê Đức Thọ là người nắm thực quyền chủ trương thống nhất toàn diện, nên những uỷ viên cao cấp khác như Lê Duẩn, Trường Chinh cũng để cho trôi qua (có thể sợ chống thống nhất kinh tế là đi ngược với chủ thuyết và bị chụp mũ là xét lại). Cả nước sau đó rơi vào đói rách. Ông Nguyễn Thành Thơ kể lại một hoạt cảnh đói:


“Một hôm khoảng 6 giờ tối, chồng thiếu tướng, vợ bác sĩ, trong lúc tôi Bí thư Chính uỷ khu miền Tây, chị là người chăm lo sức khỏe cho tôi, rất ơn nghĩa, đá cửa rào nhà tôi, kêu “Mười Khẩn [*], gạo đâu ăn?”. Tôi chạy ra mở cửa, trước thái độ đói giận, tôi vô nhà vác bao gạo mới được cấp đem ra để trên xe, xe rồ chạy về không có lời chào hỏi, đến như đi”. (Cuối Đời Nhớ Lại, trang 164)


Một hoạt cảnh khác không kém phần sống động. Nguyễn Thành Thơ ghi:


“Hai anh em con tôi, sau những ngày ăn bo bo, khoai bắp, vừa có gạo nấu nồi cháo, em vào bếp múc tô cháo ăn, anh vô bếp thấy em ăn, anh cúi xuống hỏi ‘Mầy ăn gì?’ Người em lấy mặt che tô cháo, anh nắm lỗ tai dỡ lên ‘Mầy ăn cháo gạo không chờ ai ăn’, liền đẩy đầu em xuống tô cháo, mặt đầy cháo, em ngóc đầu dậy lấy tô cháo vụt vào mặt anh, trúng mé mắt máu ra lai láng, vợ tôi vội chở đến bệnh viện Gia Định cầm máu may lại.” (Cuối Đời Nhớ Lại, trang164, 165)


Vai trò của Trường Chinh trong cuộc đổi mới năm 1986: Chưa có tài liệu nào cho thấy vai trò của Trường Chinh trong quyết định “đổi mới”. Nhưng dựa vào Hồi ký của ông Nguyễn Thành Thơ có lẽ Trường Chinh đã có một vai trò tích cực. Nguyễn Thành Thơ viết:


“Lúc đó (năm 1986) tình hình, anh Ba Duẩn mất, anh Trường Chinh được TW Đảng giao nhiệm vụ Tổng Bí thư. Anh vào Sài Gòn được Thành uỷ đưa xuống một số cơ sở sản xuất, thấy sản xuất phát triển, lao động có việc làm, hàng hoá tiêu dùng không thiếu, không khí sắp hàng mua hàng đi kiếm hàng không còn. Anh nói với anh em “Đi lên xã hội chủ nghĩa, Đảng lãnh đạo, theo đường lối quần chúng, thực tế thực tiễn, dân tộc và thời đại”. Rồi khen anh Linh là con người thực tế, thực tiễn, không duy ý chí, về Hà Nội làm việc, sau đó quyết định đề bạt anh Linh làm Thường trực Ban bí thư.” (Cuối Đời Nhớ Lại, trang 192)


Nhờ sự cất nhắc và ủng hộ của Trường Chinh Nguyễn Văn Linh đã đắc cử Tổng Bí thư tại đại hội 6 của Đảng trong năm 1986 và cầm đầu cuộc “đổi mới” cứu Việt Nam ra khỏi nạn đói.

Cuốn Hồi Ký Cuối Đời Nhớ Lại của ông Nguyễn Thành Thơ cho thấy, do đấu tranh nội bộ và áp lực của tình hình thế giới Đảng cộng sản Việt Nam đã quyết định “đổi mới” chính sách kinh tế, và qua đó cởi bỏ được một trong hai cái gông họ máng lên đầu dân tộc Việt. Cái gông còn lại là cái “gông chính trị”, cái Điều 4 của bản Hiến Pháp quái ác hiện hành.

Chừng nào thì Đảng cộng sản Việt Nam tháo gỡ cái gông còn lại để dân tộc có đầy đủ tự do thong dong tiến bước?


Trần Bình Nam
17/01/2009



[1] Xem: Phạm Văn Sơn (1960), Việt Sử Toàn Thư, trang 573
[2] “R” là Trung ương cục miền Nam, bộ phận lãnh đạo cuộc chiến tại miền Nam của Hà Nội, thường đóng bên kia biên giới Cam Bốt người cộng sản gọi là K
[3] Mười Khẩn là một trong những bí danh của ông Nguyễn Thành Thơ.


2009-01-17 08:34:48